Lê Công Hành tên thật là Bùi Công Hành (1606 – 1661), người xã Quất Động, huyện Thượng Phúc (nay là thôn Quất Động, xã Quất Động, Thường Tín, Hà Nội). Sau này ông trở thành con nuôi nhà Trần nên đổi tên thành Trần Quốc Khái. Vào đời vua Lê Thần Tông (1637), Trần Quốc Khái đã thi đậu Hoàng Giáp, làm quan đến chức Tả thị lang bộ Công tước Thọ phúc hầu. Sau này có công đi sứ sang nhà Minh nên ông đã được phong họ vua, đổi thành họ Lê, gọi là Lê Công Hành.
Chân dung ông tổ nghề thêu Lê Công Hành.
Tương truyền ông nổi tiếng thông minh từ lúc còn nhỏ, đỗ tiến sĩ vào thời vua Lê Chân Tông. Năm 1646, Lê Công Hành được cử đi sứ Tàu. Vì bày tỏ được khí khái của người nước Nam ta nên ông đã bị vua Tầu nhốt trên lầu cao, rút thang đi, không cho ai lai vãng, cũng không cho ông ăn uống. Trên lầu có pho tượng Phật, ông nhanh trí bẻ tượng ra ăn nên suốt mấy ngày không bị đói. Trên lầu cao ông tỉ mỉ lấy tấm nghi môn xuống tháo ra rồi đan lại. Ông cẩn thận xem và nhớ kỹ cách thêu thùa. Sau đó ông quan sát mấy chiếc lọng thờ, cũng tháo ra chắp vào, xem xét vải sơn vải lợp, cùng cách lắp cán, lắp chân. Nhờ vậy ông hiểu được cách làm lọng, kỹ thuật thêu của Tàu. Mãi không thấy họ cho ra khỏi lầu, ông có sáng kiến lấy hai chiếc lọng kẹp chặt hai bên hông, nhảy ra ngoài xuống đất an toàn. Triều đình Minh đành phải cho ông về nước. Khi về quê, ông đã mang những kỹ thuật thêu học được truyền lại cho người dân Quất Động quê mình.

Một cụ bà đang hoàn thiện bức tranh thêu.
Vào thế kỷ 17, đô thị Thăng Long kẻ chợ trở nên sầm uất vô cùng, người dân từ các làng nghề truyền thống khắp nơi kéo về làm ăn buôn bán. Lịch sử cũng đã từng ghi nhận, từ đời nhà Lý chuyển kinh đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, nơi này ngay lập tức đã trở thành một trung tâm lôi kéo được người dân thập phương về làm ăn buôn bán.
Trong sách Kiến văn tiểu lục, nhà bác học Lê Quý Đôn đã viết: “Thời nhà Lý mới đóng đô ở Thăng Long, người bốn phương đã kéo đến hội tụ, buôn bán…”. Đến thời nhà Lê, nhất là sau cải cách của vua Lê Thánh Tông (1460- 1497), nền kinh tế của đất nước có bước phát triển lớn và bền vững. Vì thế, Thăng Long, với 61 phường (đã có từ thời nhà Trần) lại càng phát triển.
Sau này, số phố phường Hà nội giảm xuống còn 36. Mỗi con phố khi ấy lại gắn với một nghề truyền thống, rồi trở thành phố nghề. Những con phố được gọi theo tên của những sản phẩm hàng hóa mà người dân làng nghề làm ra hoặc đem ra tiêu thụ. Chẳng hạn phố hàng Đào chuyên bán tơ lụa, phố hàng Bạc chuyên bán đồ trang sức, phố hàng Trống thì chuyên bán các loại trống, phố Hàng Thêu chuyên bán các sản phẩm thêu thùa…


